Nó chỉ được phát hiện thông qua các biến chứng ở giai đoạn muộn và khi đó việc điều trị phức tạp hơn rất nhiều và kém hiệu quả. Nhiều di chứng có thể tồn tại vĩnh viễn làm ảnh hưởng lớn tới chất lượng cuộc sống.
Đặc tính của Chlamydia
Chlamydia là một loại vi khuẩn nằm trong tế bào. Nó được xếp vào nhóm vi khuẩn gram âm có khả năng xuyên qua thành tế bào. Nó vào tế bào thông qua các phagolysome của đại thực bào. Chu kỳ phát triển của Chlamydia trong bào tương tế bào kéo dài 48-72 giờ.
Sau khi vào các tế bào đích, nó nhân lên và trở thành thể hoạt động, phá hủy tế bào, vào máu và gây tình trạng nhiễm khuẩn toàn thân. Chlamydia lây qua dịch tiết tại nơi tổn thương hoặc qua chất nhày của tế bào biểu mô. Các vị trí hay gặp là cổ tử cung, trực tràng, niệu đạo, kết mạc mắt. Qua nghiên cứu cho thấy, Chlamydia là thủ phạm của bệnh mắt hột và vô sinh. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, hằng năm có tới 50 triệu trường hợp mắc bệnh.
Có 3 loại Chlamydia chính: Chlamydia trachomatis gây bệnh đau mắt hột và viêm đường tiết niệu sinh dục. Chlamydia pneumoniae gây bệnh viêm phổi. Chlamydia psittacihas gây bệnh u hạch.
Bệnh do Chlamydia hay gặp ở những người trẻ tuổi, trong giai đoạn sinh đẻ. Các nghiên cứu mới đây cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh này đang tăng lên. Tại châu Âu từ năm 1996-2003, số bệnh nhân nhiễm Chlamydia đã tăng gấp đôi, tại Hoa Kỳ con số này cũng tăng 14% trong giai đoạn 2000-2005.
Những biểu hiện do nhiễm Chlamydia
Nguy hiểm nhất của nhiễm Chlamydia qua đường sinh dục là có tới 75% nữ giới và 50% nam giới mắc bệnh mà không có triệu chứng, người bệnh hoàn toàn không biết mình mắc bệnh. Triệu chứng của bệnh phụ thuộc vào cơ quan bị nhiễm bệnh, bao gồm:
- Nam giới khởi phát bằng viêm niệu đạo sau đó lan lên đường tiết niệu. Hay gặp là viêm tinh hoàn và tuyến tiền liệt.
Người bệnh thấy chảy dịch ở dương vật. Ngoài ra đầu dương vật ngứa ngáy khó chịu, có thể viêm nề đỏ. Biểu hiện lâm sàng của nhiễm Chlamydia tại tinh hoàn là sưng đỏ, có khi sưng rất to. Vùng bìu đỏ, sờ vào nóng và rất đau. Tổn thương thường một bên nhưng cũng có thể cả hai bên tinh hoàn. Triệu chứng kéo dài vài ba ngày, sau đó thường tự hết.
Tuy các triệu chứng mất đi nhưng vi khuẩn vẫn tồn tại. Giai đoạn này rất dễ lây khi quan hệ tình dục. Tại túi tinh, vi khuẩn gây độc cho tinh trùng, làm giảm số lượng tinh trùng, đời sống tinh trùng ngắn lại, chất lượng giảm xuống. Đây chính là lý do gây vô sinh nam.
- Nữ giới hay biểu hiện bằng viêm nhiễm đường tiết niệu - sinh dục. Người bệnh bị đái buốt, đái rắt kéo dài, ra nhiều khí hư ở âm đạo. Tuy vậy có tới 60% không biểu hiện triệu chứng, vì vậy cần thận trọng để tránh các nguy cơ biến chứng lâu dài.
Trong giai đoạn muộn khi bệnh đã chuyển sang mạn tính, người bệnh thường đi khám với các biến chứng:
- Tắc vòi trứng ở phụ nữ. Trứng từ buồng trứng thông thường đi qua vòi trứng tới buồng tử cung để thụ tinh. Tuy nhiên khi vòi trứng bị tắc, trứng không xuống gặp tinh trùng được và không thể thụ thai. Đây chính là tình trạng vô sinh thứ phát. Lúc này người phụ nữ nếu muốn có thai phải can thiệp rất phức tạp và tốn kém.
Nhiều trường hợp trứng không xuống được buồng tử cung và phát triển ngay trong vòi trứng gây ra tình trạng chửa ngoài tử cung. Bệnh cảnh lâm sàng của những bệnh nhân này rất đa dạng. Nếu không được phát hiện kịp thời, khối này vỡ ra có thể nguy hiểm tới tính mạng. Nhiều tác giả thống kê cho thấy có tới 40% phụ nữ nhiễm Chlamydia bị viêm nhiễm vùng tiểu khung. Trong số đó có 20% bị vô sinh và 9% chửa ngoài tử cung.
- Đau bụng vùng tiểu khung: Khi những tổn thương sinh dục mạn tính, người bệnh luôn có cảm giác đau đớn, khó chịu. Các thuốc hầu như chỉ có tác dụng tạm thời và người bệnh luôn phải chịu đựng những cơn đau dai dẳng. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng cuộc sống.
Nam giới cũng bị vô sinh do mắc Chlamydia. Khi nhiễm bệnh, vi khuẩn phá hủy tinh hoàn và ống dẫn tinh. Tinh trùng tạo ra bị giảm sút về chất lượng và số lượng. Hơn thế, khi ống dẫn tinh xơ hóa sẽ không thể vận chuyển tinh trùng tới gặp noãn trứng và không thể thụ thai.
Chlamydia cũng là thủ phạm gây bệnh mắt hột. Ngoài ra còn gây viêm khớp và các cơ quan khác tuy nhiên tần suất ít hơn.
Chẩn đoán bệnh bằng cách nào?
Chẩn đoán xác định bệnh nhiễm Chlamydia, các thầy thuốc dựa vào triệu chứng lâm sàng và các xét nghiệm. Khi nghi ngờ có nhiễm Chlamydia, người bệnh cần được cấy dịch niệu đạo, cấy dịch âm đạo, nước tiểu.
Ngày nay các kỹ thuật xét nghiệm hiện đại như miễn dịch huỳnh quang, phản ứng huyết thanh cho phép xác định vi khuẩn với độ nhạy rất cao. Các kỹ thuật này hiện nay đã được trang bị tại đa số các bệnh viện, người bệnh có thể có kết luận nhanh chóng và chính xác. Ngoài ra nhờ kỹ thuật gen, các thầy thuốc cũng phân lập được chủng gây bệnh nên hiệu quả điều trị cũng tốt hơn.
Phòng bệnh
Để dự phòng bệnh, quan trọng nhất là việc giữ gìn vệ sinh. Người bệnh cần tuân thủ vệ sinh tiết niệu và đường sinh dục. Thực hiện các biện pháp an toàn trong quan hệ tình dục nhằm tránh lây nhiễm các bệnh liên quan. Kiểm tra sức khỏe thường xuyên và khi có biểu hiện bệnh phải đến khám ngay tại các cơ sở y tế để chữa trị kịp thời.
Hiện nay có nhiều kháng sinh điều trị nhiễm Chlamydia. Thông thường hay dùng là nhóm cycline như doxycycline, ngoài ra còn có các thuốc nhóm quinolon. Việc dùng thuốc phải đúng chỉ định, liều lượng và đủ thời gian để tránh bệnh tái phát cũng như kháng thuốc.
(Theo SK&ĐS)
| < Lùi | Tiếp theo > |
|---|













